Eastern Mennonite University

Level II

Chapter 5
Reading

IC3

IC3 | IT | TOEFL | Best Answer
English | Vietnamese

Assessment

Giảm đói nghèo

Who is an expert in poverty reduction?
Câu hỏi hướng dẫn:
Ai là chuyên gia trong công cuộc giảm đói nghèo?

Skills:

In this chapter you will do these things:

English Language Skills:

  • Vocabulary on Poverty and Poverty Reduction (more specifically, Ethnic Minorities and Poverty)
  • More Recognizing Parts of Speech
  • Scanning for Information: Keywords
  • Scanning for Vocabulary Words
  • Scanning for Main Ideas
  • Skimming
  • Skills for Increasing Reading Speed: Seeing Phrases

Vietnamese Language Skills:

  •  

IC3 Skills:

Strategies for Poverty Reduction: Government, IGO, NGO

Intercultural Communicative Competence

Back to Top

Strategies for Poverty Reduction are many and are enacted from different levels. Governments have their strategies and one such strategy is outlined below from a speech by Director Gao Hongbin at the International Conference on China’s Poverty Reduction Strategy on May 16, 2000. Following that is a strategy proposed by the Asian Development Bank in speech at the same conference. Both of these can be described as top-down strategies in which policy and decisions are made from the government or International Government Organization (IGO). And the last strategy presented here is the Ten Thousand Villages program—a North American organization run by Mennonite Central Committee, a non-governmental organization (NGO)—that works at poverty reduction from the grass roots, that is, decisions and arrangements are made directly with those that are to be affected by the strategy. In many countries, the NGO is granted permission by the government to operate in the country.

As you read the following strategies, bear in mind these questions?

  • Who is an expert in poverty reduction?
  • Who is ultimately responsible for poverty reduction?
  • For what reasons is poverty reduction a concern for the world? The region? The country? The cities and villages?

Có nhiều chiến lược xoá đói giảm nghèo và chúng được tiến hành ở nhiều cấp độ khác nhau. Dưới đây là một chiến lược xoá đói giảm nghèo cấp nhà nước rút ra từ bài phát biểu của giám đốc Cao Hồng Bin tại hội nghị quốc tế bàn về xoá đói giảm nghèo ở Trung Quốc ngày 16 tháng 5 năm 2000. Tiếp theo đó là chiến lược xoá đói giảm nghèo của Ngân hàng Phát triển Châu Á được trình bày cũng tại hội nghị nói trên. Cả hai chiến lược đều có tính chất từ trên dội xuống theo nghĩa các chính sách và quyết định đều là của chính phủ và các tổ chức phi chính phủ. Chiến lược được trình bày cuối cùng ở chương này là Chương trìng Vạn Hương - của một tổ chức Bắc Mỹ do Uỷ ban Trung Ương Mennonite, một tổ chức phi chính phủ, điều hành. Đây là chiến lược xoá đói giảm nghèo xuất phát từ dưới lên, có nghĩa là các quyết định và sắp đặt ra đời liên quan trực tiếp đến những người được hưởng lợi từ dự án. Ở nhiều nước, tổ chức phi chính phủ được nhà nước cho phép hoạt động trực tiếp.

Trong khi đọc hãy nhớ đến những câu hỏi sau:

  1. Ai là chuyên gia trong lĩnh vực xoá đói giảm nghèo?
  2. Ai là người chịu trách nhiệm cuối cùng trong xoá đói giảm nghèo?
  3. Tại sao xoá đói giảm nghèo lại là mối quan tâm của các cộng đồng làng xã và thành phố, của quốc gia, khu vựcvà thế giới?

A Government’s Strategy for Poverty Reduction

China 's Poverty Reduction Strategy in the Early 21st Century

(Adapted from Speech by Director Gao Hongbin at the International Conference on China's Poverty Reduction Strategy in the Early 21st Century May 16, 2000 retrieved from http://www.helppoverty.org.cn/English/ghb4.htm)

1. Attach great importance to poverty reduction and raise the awareness of governments at all levels and the entire society about the importance of poverty reduction and development effort. It is a primary responsibility and fundamental mission of the Chinese government to resolve the feeding and clothing problems of rural poor as soon as possible, to narrow regional development gap and achieve common prosperity. This is an overarching issue that the Chinese government paid great attention to this overarching issue.

2. Develop and stick to the principle of reducing poverty through development activities. Against the mentality of "waiting, depending and asking for free money" developed during the poverty relief stage in some poor areas, the State Council, at the outset of poverty reduction effort, clearly formulated the principle of reducing poverty through development activities. This principle is to mobilize the initiatives of people in the poor areas, advocate and encourage poor farmers and local governments to rely on their own efforts and work hard to change their own fate and develop the capacity of self-accumulation and self-development.

3. Set a realistic poverty line based on China's reality. Poverty line determines coverage of population and area. If the line is too high, the coverage will be broader, government's poverty funds have to be dispersed and efficiency will be adversely affected. If the line is too low, it will not help to effectively change the poverty picture. Therefore, poverty line must be consistent with China's reality, particularly the reality of poor areas. To a large extent, the current poverty line is a working line. It is a line set based on the financial capacity of the Chinese government.

4. Enhance poverty institutions and increase poverty inputs year by year. Meanwhile, based on the country's economic capacity, funds inputs for poverty reduction have been expanded gradually. In 1999, annual input of poverty funds from the central government amounted to 24.8 billion yuan, 30 times more than the annual input of 800 million in early 1980s.

5. Place priority on development of crop and animal farming and on improving basic production and living conditions for poor farmers. Years of practice has proven that development of crop and animal farming is directly and closely linked to rise of farmers' income and that improving basic production and living conditions for poor farmers is the base for stable resolution of the feeding and clothing problems of the poor.

6. Adhere to combining poverty reduction work with development of grass-roots organization and family planning policy. Another important issue needs to be paid attention to is that it is of great importance to change the views of the poor people in poor areas about population birth so as to reverse the vicious cycle: "the poorer they are, the more children they give birth to, and the more children they give birth to, the poorer they become".

7. Strengthen the role of science and technology in reducing poverty and pay great attention to sustainable development of poor areas. Science and technology, particularly advanced applied agricultural technologies are an important and effective means to change the traditional production practices and to improve agricultural productivity in poor areas.

8. Mobilize and organize central government administrations, NGOs and the general public to help and support development of poor areas. In China, reducing poverty is first of all the responsibility of the government, but, at the same time, it is also the common responsibility of all walks of life. Therefore, over the past decades, poverty reduction work in China has always been a widespread initiative advocated by the government with broad participation of the entire society.

Một chiến lược xoá đói giảm nghèo của chính phủ

Chiến lược xoá đói giảm nghèo của Trung Quốc đầu thế kỷ 21

(Biên soạn từ bài phát biểu của giám đốc Cao Hồng Bin tại hội nghị quốc tế về xoá đói giảm nghèo ở Trung Quốc giai đoạn đầu thế kỷ 21, ngày 16 tháng 5 năm 2000 đăng trên trang web http://www.helppoverty.org.cn/English/ghb4.htm)

1.Coi xoá đói giảm nghèo là có tầm quan trọng đặc biệt và tăng cường mối quan tâm đến giảm nghèo và nỗ lực phát triển ở mọi cấp chính quyền và toàn thể xã hội. Trách nhiệm chính và nhiệm vụ cốt yếu của chính phủ Trung Quốc là giải quyết vấn đề ăn mặc cho người nghèo vùng nông thôn càng nhanh càng tốt, thu hẹp khoảng cách phát triển giữa các vùng và đạt được mức thịnh vượng chung. Đây là vấn đề gây đau đầu mà chính phủ Trung Quốc phải quan tâm nhiều.

2.Phương châm là thông qua các hoạt động phát triển để xoá đói giảm nghèo. Để chống lại tư tưởng “chờ đợi, phụ thuộc và đề nghị cấp tiền cứu trợ” xuất hiện trong thời kỳ cứu đói ở một số vùng nghèo, Hội đồng Nhà nước, ngay từ các nỗ lực xoá đói giảm nghèo ban đầu, đã đề ra nguyên tắc rõ ràng là xoá đói giảm nghèo phải thông qua các hoạt động phát triển. Nguyên tắc này nhằm khơi dậy sự chủ động của người dân các vùng nghèo, ủng hộ và động viên nông dân nghèo và chính quyền địa phương dựa vào chính họ để đổi đời và tạo ra khả năng tự tích luỹ vốn và tự phát triển.

3.Đặt ra một chuẩn nghèo cụ thể dựa trên tình hình thực tế của Trung Quốc. Chuẩn nghèo phải bao quát được dân số và vùng. Nếu chuẩn quá cao, phổ nghèo sẽ rộng, quỹ xoá đói giảm nghèo của chính phủ sẽ bị chia nhỏ ảnh hưởng đến mức độ hiệu quả của đồng vốn. Nếu chuẩn quá thấp, bức tranh về tình trạng nghèo đói sẽ khó thay đổi một cách hiệu quả. Vì vậy, chuẩn nghèo phải sát với tình hình thực tế Trung Quốc, đặc biệt là tình hình những vùng nghèo. Nói chung, chuẩn nghèo phải là chuẩn thực tế, là mức đặt ra dựa trên khả năng tài chính của chính phủ Trung Quốc.

4.Củng cố các tổ chức xoá đói giảm nghèo và tăng lượng hỗ trợ đầu vào cho các tổ chức này hàng năm. Cùng lúc, phù hợp với khả năng kinh tế của đất nước, quỹ xoá đói giảm nghèo đầu vào cho các tổ chức này đã tăng đều đặn. Năm 1999, nguồn quỹ xoá đói giảm nghèo hàng năm từ chính quyền trung ương đã tăng lên đến 24,8 tỷ nhân dân tệ, nhiều hơn 30 lần sồ quỹ hàng năm của những năm 80 là 800 triệu nhân dân tệ.

5.Ưu tiên phát triển chăn nuôi và trồng trọt, ưu tiên cải thiện sản xuất hàng thiết yếu và điều kiện sống của nông dân nghèo. Thực tiễn nhiều năm cho thấy phát triển chăn nuôi và trồng trọt ảnh hưởng trực tiếp và gắn liền với mức tăng thu nhập của nông dân nghèo; cải thiện điều kiện sống và tăng cường sản xuất hàng tiêu dùng thiết yếu cho nông dân nghèo là cơ sở của việc giải quyết lâu dài vấn đề ăn mặc cho người nghèo.

6.Kiên trì kết hợp công tác giảm nghèo với phát triển các tổ chức cấp cơ sở và kế hoạch hoá gia đình. Một vấn đề quan trọng khác cần quan tâm là thay đổi cách nghĩ của người nghèo ở những vùng kém phát triển có vai trò đặc biệt trong việc phá vỡ vòng luẩn quẩn: “càng nghèo càng đẻ nhiều con, càng đẻ nhiều con càng nghèo hơn”.

7.Tăng cường vai trò của khoa học kỹ thuật trong xoá đói giảm nghèo và chú trọng đặc biệt đến phát triển bền vững ở những vùng nghèo. Khoa học kỹ thuật, đặc biệt là công nghệ tiên tiến áp dụng trong nông nghiệp là công cụ quan trọng và có hiệu quả để thay đổi sản xuất truyền thống và tăng năng xuất lao động trong nông nghiệp ở những vùng kém phát triển.

8.Huy động và liên kết các cấp chính quyền trung ương, các tổ chức phi chính phủ và các tầng lớp nhân dân giúp đỡ và ủng hộ các vùng nghèo phát triển. Ở Trung Quốc, trách nhiệm chính trong xoá đói giảm nghèo là của chính phủ, nhưng cùng lúc cũng là trách nhiệm chung của tất cả mọi người. Vì vậy, trong các thập kỷ vừa qua, công tác xoá đói giảm nghèo luôn là các hoạt động trên diện rộng do chính phủ khởi xướng với sự tham gia đông đảo của toàn xã hội.

An IGO’s Strategy for Poverty Reduction

The Asian Development Bank and Poverty Reduction in China

(from www.adb.org/Documents/Speeches/2000/ms2000025.asp)

Introduction

Vice Premier Wen, Vice Minister Hu, Director-General Gao, Vice President Karlsson, Ms. Lietner, Distinguished Guests. The Asian Development Bank, or ADB for short, is pleased to be cosponsoring this important conference on poverty reduction in China.

The Leading Group on Poverty Alleviation and Development, the Asian Development Bank, the World Bank, and the United Nations Development Program share many common goals and visions. As we enter the new millennium after a century of technological advances and scientific achievements, our shared goal is to eradicate poverty.

ADB and Poverty Reduction

How is ADB fighting poverty? Last November, ADB's Board of Directors approved a radical shift in the way that we do business. With the adoption of our new Poverty Reduction Strategy, ADB refocused its work on the single, overarching goal of eliminating poverty in Asia. The Strategy requires all ADB operations - lending, technical assistance grants, capacity building, economic and sector work, donor coordination, and policy dialogue - to contribute to poverty reduction.

The Strategy starts with a revised definition of poverty. In the past, we relied heavily on income levels to measure poverty. However, there is now general agreement that poverty goes beyond this traditional definition. I would like to quote from our Strategy paper. In ADB's view, "…poverty is a deprivation of essential assets and opportunities to which every human is entitled. Everyone should have access to basic education and primary health services. Poor households have the right to sustain themselves by their labor and be reasonably rewarded, as well as having some protection from external shocks. Beyond income and basic services, individuals and societies are also poor - and tend to remain so - if they are not empowered to participate in making the decisions that shape their lives.

Poverty is thus better measured in terms of basic education; health care; nutrition; water and sanitation; as well as income, employment, and wages. Such measures must also serve as a proxy for other important intangibles such as feelings of powerlessness and lack of freedom to participate."

The Leading Group may wish to consider whether ADB's broader definition of poverty would also be relevant for China.

The ADB's poverty reduction strategy is built on three pillars:

  • First, pro-poor, sustainable economic growth. This is growth that creates opportunities and lifts people out of poverty and expands public revenues that can be used for basic education, health care, and infrastructure. Growth must be inclusive both to reduce poverty levels and to maintain social stability.
  • Second, social development. Growth is necessary but not sufficient for poverty reduction. Social development enables the poor to make use of employment opportunities and improve their living standards. Key elements here are human capital development, population policy, social capital development, gender issues, and social protection. Social development must accompany economic growth to reduce poverty effectively.
  • Third, good governance. This is critical to poverty reduction. Good governance benefits all, particularly the poor who are the least capable of coping with the consequences of poor governance. Sound, well-managed, well-governed economies foster growth and equity. Accountability, participation, predictability and transparency are essential to encourage private investment and to reduce corruption. Good governance facilitates participatory pro-poor policies, promotes the effective delivery of public services, and helps to establish the rule of law.

ADB has a broad view of poverty reduction. There are short, medium, and long-term poverty measures that can be used.

Short-term measures include providing goods and services directly to the most vulnerable members of society.

Medium-term measures include improving health, education and social protection systems, institutional reform, and capacity building.

Long-term measures include promoting sustained, pro-poor growth by improving infrastructure, creating jobs and protecting the environment in areas with a high incidence of poverty.

ADB has developed specific targets against which we can measure our progress in helping to reduce poverty. From 2001 onwards, at least 40 percent of our public sector lending will go to poverty reduction.

ADB has relevant and successful poverty reduction experiences in other countries that could be adapted to Chinese conditions. Let me give a few examples:

  • first, providing small-scale infrastructure projects and employment opportunities for the poor in Indonesia;
  • second, combining agriculture, infrastructure, and microfinance activities under area development programs for the poor in Bangladesh; and
  • third, linking private banks, NGOs, Grameen Bank replications, and cooperatives to provide the poor access to microfinance in Nepal and the Philippines.

Poverty Reduction in China

Other countries also have much to learn from China. China's performance in reducing poverty is among the best in Asia. China can take pride in having reduced the number of absolute poor from 250 million in 1978 to around 34 million today. Minorities, the disabled, and people living in remote, resource-poor areas account for much of the remaining poor.

ADB would like to intensify its cooperation with China in the area of poverty reduction. The Leading Group is undertaking a very important task in developing China's poverty strategy for the next twenty years. This new strategy will provide a framework in which ADB and other international agencies can join forces to help China in its fight against poverty. I would like to highlight six issues that ADB thinks should be addressed in the Leading Group's new poverty reduction strategy.

First, China needs a new definition of poverty. The poverty lines used in the past focused attention on absolute poverty. China has won the war against absolute poverty. By the end of the year there will only be about 20 million people with incomes less than the Yuan 635 poverty line. It is now time to broaden the definition of poverty. For example the international norm of $1 per day, adjusted for purchasing power parity, could be used. Alternatively, we could take the income level of the bottom 10 percent of the rural population. Relative definitions of poverty are used in many developed countries. Both figures work out to around Y900 and Y1,000 per year.

The second issue relates to geographic targeting. The past system of designating poverty counties has served China well. However, now only about half of the absolute poor live in poverty counties. Some of the poverty counties have reached a stage of development where they are no longer poor and should graduate from their poverty status. ADB does not believe that the concept of poverty counties should be totally eliminated. However, it should be refined. Some type of geographic targeting is important. Various indicators such as income per capita, social development indicators, and physical infrastructure indicators could be used to classify counties in terms of the multiple dimensions of poverty. The Government should give some priority to these counties when planning its investments, particularly large infrastructure investments, that help to promote pro-poor economic growth. This will help the relatively poor and safeguard the people with incomes just above the poverty line from falling back into poverty. While poverty townships can be used to target smaller investments and job creation initiatives better, counties are more appropriate for planning and financing larger infrastructure investments. However, such a reclassification of poverty counties would not, by itself, be enough.

The third issue relates to client-based targeting that is not restricted by geographic targeting. Ways must be found to target the poor, no matter where they live, whether in poor or non-poor geographic areas. Mechanisms must be developed to target programs more directly on the poor. Some programs should be targeted based on the characteristics of the individuals concerned, regardless of where they live. This would involve defining the poor in terms of both income and non-income criteria such as education, health, and housing indicators.

Fourth, China must place more emphasis on fighting urban poverty. In the past, poverty was largely a rural problem. However, urban poverty is becoming an increasingly important social problem. Good labor market policies, urban microcredit, and better pensions, unemployment and health insurance systems, are the keys to urban poverty reduction. Urban poverty lines need to be defined according to local minimum living standards. These vary widely by location but are often two to three times those of rural areas. Until better information is available, ADB is using a figure of $2 per day in smaller cities and $3 per day in larger cities along the East Coast to define urban poverty.

Fifth, ADB's experience in other countries has shown that market interest rate-based micro credit loans can be a powerful weapon in the fight against poverty. However, for credit schemes to be effective the interest rates must be sufficient to make the schemes sustainable. Based on ADB's experience, it is more important to provide the poor with access to credit than to subsidize the interest rate. Subsidized credit does not always reach the poor. For micro credit to be a useful tool in China, an appropriate, market-based legal and regulatory regime for micro credit must be adopted by the People's Bank of China. Commercial banks should not be asked to provide micro credit on non-commercial terms. Micro finance should not be viewed as a social welfare tool. Micro credit projects must be commercially viable for both the borrower and the lender. Good access to markets, training and measures to improve the productivity of the poor help to make micro credit projects successful. China has some experience with micofinance in rural areas. ADB believes that greater attention should be given to using micro credit in urban areas.

Sixth, carefully defined guidelines should be developed for voluntary resettlement. This should be used as a poverty reduction tool only as a last resort. The remaining 20 million rural poor live mostly in very remote, resource poor areas. Voluntary resettlement is used in China as one option to help them escape poverty. But voluntary resettlement often comes with high social and cultural costs. Voluntary resettlement is considered to be quite controversial by many NGOs and international organizations. If the Leading Group hopes to get the support of the international community for voluntary resettlement efforts, we must reach broad agreement on appropriate policies, procedures, and mechanisms that would satisfy the concerns of all parties. The risks and challenges must be carefully analyzed when considering voluntary resettlement.

How ADB and China can Cooperate

I would like to end my remarks by talking about what ADB can do to help China fight poverty. I would like to mention four initiatives that I hope the Leading Group can support.

First, ADB believes that our hard money can be used to help China fight poverty. Later this morning my colleague, David Sobel, will present the findings of a study that ADB is undertaking with the Leading Group on this topic. The economic case for investing in poverty reduction projects is clear. ADB will shift two thirds of its lending to the poorer central and western provinces. Adequate infrastructure is essential to create the conditions necessary to reduce poverty. We will broaden the focus of infrastructure investments to make them more pro-poor. For example, feeder roads to poor villages can help to spread the benefits of traditional road projects by ensuring that poor farmers can more easily market their produce and have better access to inputs and social services.

Lifeline tariffs can be incorporated in water and power projects to offset some of the impact of cost recovery policies on the poor. Agriculture projects and micro credit projects can be designed to create jobs for the poor. Environmental projects can be designed to improve natural resource management and reduce pollution to benefit the poor. ADB plans to work closely with the Leading Group, the State Development Planning Commission, and the Ministry of Finance to identify practical ways to make our lending to China more pro-poor. We will actively seek to mobilize concessional cofinancing from bilateral donors or sources like the Global Environment Facility to soften the total financing cost for ADB's pro-poor projects.

Second, ADB is trying to develop special mechanisms to allow us to work more closely with China in the area of poverty reduction. Next week, ADB's Board of Directors will approve the $90 million Japan Fund for Poverty Reduction. This fund will support innovative poverty reduction activities as part of ADB projects by providing grants of about $3 to $5 million. Activities can include basic infrastructure, social development funds, and NGO programs.

Third, ADB will make a technical assistance grant available for China called Reflecting the Voices of the Poor in the Country Poverty Analysis. This will support participatory poverty assessments in selected rural and urban areas and a policy workshop that will bring together the poor, Government officials, NGOs, private sector and other donors. This will be part of a process that will lead to a poverty partnership agreement that will provide a strategic framework for ADB's poverty reduction activities in China.

Fourth, ADB has initiated discussions with the Leading Group and Harvard University on the idea of establishing a joint rural poverty reduction research center in Guizhou. This center would allow international and domestic experts to learn from, and expand on, an ongoing ADB funded pilot project and engage in other priority research needs on rural poverty in the China. The idea is for NGOs and private sector businesses to "adopt" poor villages in the project area and contribute operating funds for the research center. The Leading Group, ADB, and Harvard would then solicit and evaluate research proposals with prospects for practical applications in combating poverty and provide grants to fund the research.

Vice Premier Wen, let me conclude by stating that Asia and China can be free of poverty. ADB has a clear vision of a poverty-free Asia: a vibrant society of healthy, educated, and productive people living in a clean environment. China has the same vision. Pro-poor public policy and targeted action can change the face of poverty. ADB is ready to join forces with China and with other donors in the fight against poverty.

Thank you.

Chiến lược xoá đói giảm nghèo của một tổ chức phi chính phủ

Xoá đói giảm nghèo ở Trung Quốc và Ngân Hàng Phát Triển Châu Á

(từ trang web www.adb.org/Document/Speeches/2000/ms2000025.asp)

Giới thiệu

Kính thưa phó thủ tướng Wen, Thứ trưởng Hu, Xử lí Thường vụ Cao, Phó Chủ tịch Karlsson, thưa bà Lietner, cùng các vị khách quí. Ngân hàng Phát triển Châu Á, gọi tắt là ADB, rất hân hạnh đồng tài trợ cho hội nghị quan trọng về xoá đói giảm nghèo ở Trung Quốc này.

Là nhóm Lãnh đạo trong Chương trình Phát triển và Xoá nghèo; Ngân hàng Phát triển Châu Á, Ngân hàng Thế giới, Chương trình Phát triển Liên Hợp Quốc đều có nhiều điểm tương đồng trong mục đích và quan điểm. Khi chúng ta bước sang thiên niên kỷ mới sau một thế kỷ của tiến bộ công nghệ và các thành tựu khoa học, mục tiêu chung của chúng ta là xoá đói giảm nghèo.

Ngân hàng Phát triển Châu Á và xoá đói giảm nghèo

Ngân hàng phát triển Châu Á chống đói nghèo như thế nào? Tháng 11 năm ngoái, ban giám đốc ADB đã thông qua một sự thay đổi căn bản trong cách điều hành công việc. Với chiến lược xoá đói giảm nghèo mới, ADB điều chỉnh lại trọng tâm công việc nhằm vào một mục đích duy nhất và bao trùm là xoá đói giảm nghèo ở Châu Á. Chiến lược này đòi hỏi mọi hoạt động của ADB đều phải đóng góp vào xoá đói giảm nghèo: các hoạt động cho vay, trợ cấp hỗ trợ kỹ thuật, xây dựng cơ bản, các hoạt động kinh tế và ngành, phối hợp tài trợ, và đàm phán về chính sách.

Chiến lược này bắt đầu bằng định nghĩa lại nghèo đói. Trước đây, chúng ta chủ yếu dựa trên mức thu nhập để đo mức độ nghèo đói. Tuy nhiên, có sự đồng thuận chung hiện nay rằng nghèo đói phải được hiểu rộng hơn so với định nghĩa truyền thống. Tôi xin được trích từ tài liệu Chiến Lược của chúng ta. Theo quan điểm của ADB: “…nghèo đói là tình trạng không có sở hữu và cơ hội thiết yếu mà mỗi con người đáng có. Mỗi người đều phải có quyền tiếp cận với giáo dục phổ thông và chăm sóc sức khoẻ tối thiểu. Các hộ nghèo phải có quyền sống được bằng sức lao động của mình và được trả thù lao xứng đáng, cũng như được bảo vệ khi những biến cố bất ngờ từ bên ngoài tác động. Ngoài thu nhập và các dịch vụ thiết yếu, cá nhân và cộng đồng cũng bị coi là nghèo – và có khuynh hướng tiếp tục nghèo - nếu họ khong được quyền tham gia vào việc ra quyết định liên quan đến định hình cuộc sống của họ.

Vi vậy nghèo đói tốt hơn cả là được đo bằng giáo dục phổ thông, chăm sóc sức khoẻ, chế độ dinh dưỡng, nguồn nước và sự cải thiện điều kiện vệ sinh, cùng với thu nhập, công ăn việc làm và tiền lương. Các chỉ số như vậy cũng đại diện cho các chỉ số không định lượng khác như cảm giác không có quyền thế và không được tự do tham dự”.

Các nhóm xoá đói giảm nghèo hàng đầu có thể muốn xem xét lại định nghĩa về nghèo đói theo nghĩa rộng của ADB liệu có phù hợp với Trung Quốc không?

Chiến lược giảm nghèo của ADB dựa trên 3 nội dung chính:

• Thứ nhất là, tăng trưởng kinh tế bền vững, hướng về người nghèo. Kiểu tăng trưởng này tạo ra các cơ hội và kéo người dân ra khỏi nghèo đói, tăng thu nhập công ích, nguồn tài chính có thể dùng vào giáo dục, chăm sóc sức khoẻ, và phát triển hạ tầng. Tăng trưởng phải nhằm vào cả giảm đói nghèo và giữ vững ổn định xã hội.

• Thứ hai là, phát triển xã hội. Tăng trưởng là cần thiết nhưng chưa đủ để giảm nghèo. Phát triển xã hội làm cho người nghèo có khả năng tận dụng được các cơ hội việc làm và cải thiện mức sống của họ. Các nhân tố chính ở đây là phát triển nguồn nhân lực, chính sách dân số, phát triển nguồn vốn xã hội, các vấn đề về giới, và bảo trợ xã hội. Phát triển xã hội phải đi cùng với phát triển kinh tế để giảm nghèo có hiệu quả.

• Thứ ba là, chỉ đạo tốt. Điều này có tầm quan trọng sống còn với giảm nghèo. Chỉ đạo tốt có lợi cho tất cả mọi người, đặc biệt là người nghèo, những người ít có khả năng nhất giải quyết những hậu quả của việc chỉ đạo tồi. Nền kinh tế chỉ đạo tốt, điều hành tốt, đúng đắn thúc đẩy tăng trưởng và sự công bằng. Trách nhiệm, sự tham gia, dự đoán đươc trước là những điều rất quan trọng đối với việc khuyến khích đầu tư tư nhân và giảm tham nhũng. Chỉ đạo tốt tạo điều kiện dễ dàng cho các chính sách liên quan nhằm vào người nghèo, thúc đẩy cung cấp có hiệu quả các dịch vụ công cộng, và và giúp thiết lập tính pháp quyền.

ADB có cách nhìn rộng về xoá đói giảm nghèo. Có thể dùng các biện pháp giảm nghèo ngắn hạn, trung hạn, và dài hạn.

Các biện pháp ngắn hạn gồm cung cấp hàng hoá và dịch vụ trực tiếp đến những thành viên nghèo đói nhất của xã hội.

Các biên pháp trung hạn gồm cải thiện hệ thống chăm sóc sức khoẻ, giáo dục, bảo trợ xã hội, cải cách hành chính và xây dựng cơ bản.

Các biện pháp dài hạn gồm khuyến khích tăng trưởng bền vững hướng về người nghèo bằng cách cải thiện cơ sở hạ tầng, tạo công ăn việc làm và bảo vệ môi trường ở những vùng có mật độ nghèo cao.

ADB đã đưa ra những mục tiêu cụ thể để dựa vào đó chúng ta có thể xác định được mức độ tiến bộ của công tác giảm nghèo. Từ năm 2002 trở đi, ít nhất 40% mức cho vay đối với khu vực công cộng sẽ chuyển vào mục xoá đói giảm nghèo.

ADB có kinh nghiệm xoá đói giảm nghèo thành công và phù hợpở các nước khác có thể áp dụng cho xoá đói giảm nghèo trong điều kiện Trung Quốc. Hãy để tôi nêu một vài ví dụ:

• Một là, cung cấp các dự án xây dựng cơ sở hạ tầng quy mô nhỏ và các cơ hội việc làm cho người nghèo ở In đô nê xi a;

• Hai là, kết hợp các hoạt động nông nghiệp, cơ sở hạ tầng và các hoạt động tài chính loại nhỏ trong các chương trình phát triển vùng vì người nghèo ở Băng la đét;

• Ba là, kết nối các ngân hàng tư nhân, các tổ chức phi chính phủ, các ngân hàng kiểu Grameen, và các hợp tác xã để cung cấp các dự án tài chính loại nhỏ cho người nghèo ở Nê pan và Phi líp pin.

Giảm nghèo ở Trung Quốc

Các nước cũng học được nhiều từ Trung Quốc. Hoạt động xoá đói giảm nghèo ở Trung Quốc thuộc loại tốt nhất ở châu Á. Trung Quốc có thể tự hào đã giảm số người nghèo tuyệt đối từ 250 nghìn người năm 1978 xuống còn khoảng 34 nghìn người như hiện nay. Người dân tộc thiểu số, người tàn tật, và người sống ở vùng sâu vùng xa, vùng nghèo nguồn lực chiếm đa số trong những người nghèo còn lại.

ADB muốn tăng cường hợp tác với Trung Quốc trong lĩnh vực giảm nghèo. Tổ chức Nhóm Dẫn Đầu đang đảm nhận một nhiệm vụ rất quan trọng trong việc đề ra chiến lược chống nghèo đói cho Trung Quốc trong 20 năm tới. Chiến lược mới này sẽ tạo một khuôn khổ trong đó ADB và các tổ chức quốc tế khác có thể phối hợp giúp Trung Quốc chống lại nghèo đói. Tôi xin nhấn mạnh 6 vấn đề mà ADB cho là cần đề cập tới trong chiến lược giảm nghèo mới của Nhóm Lãnh đạo trong Chương trình Phát triển và Xoá nghèo.

Vấn đề thứ nhất, Trung Quốc cần một định nghĩa mới về đói nghèo. Chuẩn đói nghèo cũ tập trung vào tình trạng đói nghèo tuyệt đối. Trung Quốc đã thắng trong trận chiến với đói nghèo tuyệt đối. Đến cuối năm nay chỉ còn khoảng 20 nghìn người có thu nhập ít hơn mức 635 Nhân dân tệ. Đây là lúc phải mở rộng khái niệm đói nghèo. Ví dụ như có thể áp dụng chuẩn đói nghèo quốc tế 1 đô la/ 1 ngày sau khi thay đổi cho phù hợp với sức mua của Trung Quốc. Hoặc là có thể lấy mức thu nhập của 10% dân vùng nông thôn nghèo nhất làm chuẩn nghèo đói. Nhiều khái niệm nghèo tương đối được dùng ở các nước phát triển. Cả hai cách tính đều cho một kết quả mức nghèo đói ở khoảng 900 đến 1000 Nhân dân tệ một năm.

Vấn đề thứ hai liên quan đến đặt mục tiêu vùng địa lý. Hệ thống cũ xác định các hạt đói nghèo của Trung Quốc đã rất thành công. Tuy nhiên, hiện nay chỉ khoảng một nửa những người nghèo tuyệt đối sống ở những hạt được xác định là nghèo đói. Một số trong những hạt này đã đạt đến trình độ phát triển vượt nghèo. ADB cho rằng không nên bỏ hoàn toàn khái niệm hạt nghèo đói. Tuy nhiên, khái niệm đó phải được làm cho rõ hơn. Một số loại mục tiêu vùng địa lý là quan trọng. Các chỉ số khác nhau như thu nhập trên đầu người, các chỉ số phát triển xã hội, các chỉ số phát triển cơ sở hạ tầng có thể dùng để xác định các hạt xét về mặt đa chiều của nghèo đói. Chính phủ nên ưu tiên cho các hạt này khi lập kế hoạch đầu tư của mình, đặc biệt những dự án đầu tư cơ sở hạ tầng lớn, có thể giúp thúc đẩy tăng trưởng kinh tế có lợi cho người nghèo. Điều này giúp cho những người nghèo tương đối và ngăn những người có thu nhập vừa trên mức nghèo đói không rơi vào tình trạng nghèo trở lại. Trong khi khái niệm thị trấn nghèo được dùng để nhằm vào những dự án nhỏ hơn và tạo công ăn việc làm tốt hơn, khái niệm hạt nghèo đói phù hợp hơn với việc lập kế hoạch và cung cấp tài chính cho các dự án phát triển cơ sở hạ tầng lớn hơn. Tuy nhiên, chỉ một mình việc phân loại lại các hạt nghèo đói không là chưa đủ.

Vấn đề thứ ba liên quan đến việc nhằm vào người nghèo không giới hạn trong vùng địa lý. Phải tìm được các cách tiếp cận người nghèo dù họ sống ở đâu, trong hoặc ngoài khu vực hạt nghèo. Phải thiết lập các cơ chế làm cho trương trình xoá đói giảm nghèo nhằm trực tiếp vào người nghèo. Một số chương trình nên nhằm vào đặc điểm của cá nhân là đối tượng của chương trình, bất kể khu vực họ sống. Điều này bao gồm cả việc xác định tình trạng nghèo dựa vào các tiêu chí thu nhập lẫn ngoài thu nhập như chỉ số về giáo dục, sức khoẻ, và nhà ở.

Vấn đề thứ tư là, trung Quốc phải quan tâm hơn nữa đến chống nghèo ở thành thị. Trước đây, nghèo đói chủ yếu là vấn đề nông thôn. Tuy nhiên, nghèo đói ở thành thị ngày càng trở nên vấn đề xã hội trầm trọng. Chính sách thị trường lao động hợp lý, cho vay tín dụng loại nhỏ, chế độ lương hưu cao hơn, hệ thống bảo hiểm y tế và trợ cấp thất nghiệp là chìa khoá của giảm nghèo đô thị. Chuẩn nghèo thành thị phải được xác định theo mức sống tối thiểu ở địa phương. Các mức này khác nhau tuỳ vùng nhưng thường ở mức gấp 2 – 3 lần mức sống của các vùng nông thôn. Cho đến khi có các thông tin chính xác hơn, ADB dung con số 2 đô la một ngày cho thành phố nhỏ và 3 đô la một ngày cho thành phố lớn dọc theo vùng duyên hải miền đông để xác định mức nghèo đói.

Vấn đề thứ 5 là, kinh nghiệm của ADB ở các nước khác cho thấy các khoản vay tín dụng mini dựa trên mức lãi xuất thị trường là vũ khí có hiệu quả chống lại đói nghèo. Tuy nhiên, để kế hoạch tín dụng có kết quả, lãi xuất phải đủ để kế hoạch tín dụng được bền vững. Dựa trên kinh nghiệm ADB, làm cho người nghèo tiếp cận được với vốn tín dụng quan trọng hơn là trợ cấp cho tỷ lệ lãi xuất. Tín dụng được trợ cấp không phải lúc nào cũng tới đượp người nghèo. Để các khoản tín dụng loại mini trở thành công cụ có ích ở Trung Quốc, Ngân hàng Nhân dân trung Quốc nên áp dụng một chế độ phù hợp, điều hoà, hợp pháp, dựa trên cơ chế thị trường để cho vay tín dụng mini. Không nên đề nghị các ngân hàng thương mại tham gia cho vay tín dụng mini theo những điều khoản không thương mại. Tiền cho vay tín dụng mini nên được coi là công cụ phúc lợi xã hội. Các dự án tín dụng mini phải tồn tại được qua cơ chế thương mại với cả người vay lãnn người cho vay. Tiếp cận tốt với thị trường, tập huấn và đánh giá để nâng cao năng lực sản xuất của người nghèo là những nhân tố giúp các dự án tín dụng mini thành công. Trung Quốc có kinh nghiệm thực hiện các dự án này ở vùng nông thôn. ADB cho rằng nên quan tâm hơn nữa đến việc thực hiện dự án tín dụng mini ở khu vực thành thị.

Vấn đề thứ sáu là, nên đưa ra hướng dẫn cụ thể cho những người tình nguyện đi xây dựng vùng kinh tế mới. Đi xây dựng vùng kinh tế mới như là công cụ xoá đói giảm nghèo chỉ nên dung như phương cách cuối cùng. 20 triệu dân nông thôn nghèo còn lại phần lớn sống ở vùng sâu vùng xa, nghèo về nguồn lực. Đi định cư xây dựng vùng kinh tế mới được dung ở Trung Quốc như là một cách khác để giúp người dân thoát khỏi đói nghèo. Nhưng cách xoá đói giảm nghèo này thường đi cùng với các tổn thất lớn về văn hoá xã hội. Nhiều tổ chức phi chính phủ và tổ chức quốc tế coi biện pháp định cư xây dựng vùng kinh tế mới là không có hiệu quả. Nếu Nhóm lãnh đạo trong Chương trình Phát triển và Xoá nghèo hi vọng sẽ có sự ủng hộ từ cộng đồng quốc tế cho các nỗ lực xây dựng vùng kinh tế mới thì chúng ta phải đạt được sự đồng thuận rộng khắp về các chính sách phù hợp, tiến trình thực hiện, và cơ chế làm vừa lòng tất cả các bên có liên quan. Phải phân tích cẩn thận những rủi ro và thách thức khi xem xét kế hoạch định cư xây dựng vùng kinh tế mới.

ADB và Trung Quốc có thể phối hợp với nhau như thế nào

Tôi xin kết thúc những nhận xét của tôi bằng cách nói về những gì ADB có thể làm để giúp Trung Quốc chống lại nghèo đói. Tôi xin nhắc đến 4 sáng kiến mà hi vọng là Nhóm lãnh đạo xoá đói giảm nghèo có thể hỗ trợ.

Một là, ADB cho rằng ngoại tệ mạnh của chúng ta có thể dùng để giúp Trung Quốc xoá đói giảm nghèo. Trong vòng buổi sáng hôm nay, đồng nghiệp của tôi, ông David Sobel sẽ trình bày về những kết luận của cuộc khảo sát ADB tiến hành với Nhóm lãnh đạo về vấn đề này. Hoàn cảnh kinh tế để đầu tư vào các dự án xoá đói giảm nghèo là đã rõ ràng. ADB sẽ chuyển 2/3 lượng tiền cho vay của mình cho những tỉnh nghèo hơn ở miền trung và miền tây. Chúng tôi sẽ mở rộng trọng tâm đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng để làm cho các dự án đầu tư này hướng về người nghèo hơn nữa. Ví dụ như đường nhánh dẫn tới các làng nghèo có thể trải rộng lợi ích của các dự án xây dựng đường truyền thống bằng cách bảo đảm cho nông dân nghèo có thể bán nông sản của họ dễ dàng hơn và tiếp cận tốt hơn với nguyên liệu đầu vào và dịch vụ xã hội.

Sự miễn giảm thuế cho những diện ưu tiên có thể nhập vào các dự án cung cấp điện nước để bù lại một phần ảnh hưởng đối với người nghèo của chính sách thu hồi vốn. Các dự án nông nghiệp và tín dụng mini phải được thiết kế để tạo ra việc làm cho người nghèo. Các dự án về môi trường phải được thiết kế để cải thiện quản lý tài nguyên thiên nhiên và giảm ô nhiễm có lợi cho người nghèo. ADB có kế hoạch phối hợp chặt chẽ với Nhóm lãnh đạo, Uỷ ban Kế hoạch Phát triển Nhà nước, và Bộ tài chính để xác định rõ các cách cụ thể làm cho đồng vốn cho Trung Quốc vay phải có lợi cho người nghèo hơn. Chúng tôi sẽ tích cực tìm kiếm để động viên nguồn đồng tài trợ thuận lợi từ các nhà tài trợ song phương hoặc từ các nguồn như Tổ chức Môi trường Thế giới để làm nhẹ bớt gánh nặng tài chính cho các dự án vì người nghèo của ADB.

Hai là, ADB đang cố gắng thiết lập những cơ chế đặc biệt cho phép chúng ta hợp tác chặt chẽ hơn với Trung Quốc trong lĩnh vực giảm nghèo. Tuần tới, Ban Giám Đốc ADB sẽ thông qua dự án 90 triệu đô la Quỹ Nhật bản Xoá đói Giảm nghèo. Quỹ này sẽ hỗ trợ các hoạt động giảm nghèo đổi mới như một phần của các dự án ADB bằng cách cấp các khoản vốn từ 3 đến 5 triệu. Các hoạt động giảm nghèo có thể gồm xây dựng cơ sở hạ tầng cơ bản, lập quỹ phát triển xã hội, thực hiện các chương trình của tổ chức phi chính phủ.

Ba là, ADB sẽ cung cấp vốn trợ giúp công nghệ cho Trung Quốc gọi là Phản ánh Tiếng nói của Người nghèo trong Chương trình Phân tích Nghèo đói Quốc gia. Vốn này sẽ hỗ trợ tham dự đánh giá nghèo đói trong những vùng nông thôn và thành thị được chọn. Vốn này cũng đồng thời hỗ trợ các hội thảo về chính sách để nhóm lại người nghèo, quan chức chính phủ, tổ chức phi chính phủ, lĩnh vực tư nhân và các nhà tài trợ. Đây sẽ là một phần của tiến trình mà trong đó các bên tham gia sẽ đạt được sự đồng thuận cung cấp một chiến lược khung cho các hoạt động giảm nghèo ở Trung Quốc của ADB.

Bốn là, ADB đã khởi xướng các cuộc thảo luận với Nhóm lãnh đạo và Đại học Harvard về ý tưởng thiết lập trung tâm phối hợp nghiên cứu về giảm nghèo nông thôn ở Quí Châu. Trung tâm này sẽ cho phép các chyên gia trong nước và quốc tế tìm hiểu và mở rộng một dự án thử nghiệm do ADB tài trợ và xúc tiến các nhu cầu nghiên cứu được ưu tiên khác về đói nghèo nông thôn của Trung Quốc. Ý tưởng này nhằm làm cho các tổ chức phi chính phủ và các doanh nghiệp tư nhân “chấp nhận” các làng nghèo trong khu vực triển khai dự án và đóng góp quỹ hoạt động cho trung tâm nghiên cứu. Nhóm lãnh đạo, ADB, và Đại học Harvard sau đó sẽ tập hợp và đánh giá các đề xuất nghiên cứu có triển vọng áp dụng vào thực tiễn chống nghèo và cung cấp tài chính cho nghiên cứu đó.

Thưa Phó thủ tướng Wen, cho phép tôi được kết luận bằng cách nói rằng Châu Á và Trung quốc có thể thoát được đói nghèo. ADB nhìn rõ một Châu Á không còn nghèo đói: một xã hội mạnh mẽ của những người có sức khoẻ, được giáo dục, có năng lực cao trong một môi trường sạch. Trung Quốc cũng có triển vọng như vậy. Chính scáh công cộng hướng về người nghèo và hành động có chủ đích có thể thay đổi bộ mặt của đói nghèo. ADB sẵn sàng phối hợp với Trung Quốc và các nhà tài trợ khác trong cuộc chiến chống đói nghèo này.

Xin cám ơn.

One Strategy for an NGO

About Ten Thousand Villages

Ten Thousand Villages provides vital, fair income to Third World people by marketing their handicrafts and telling their stories in North America.

Ten Thousand Villages works with artisans who would otherwise be unemployed or underemployed, providing sustainable income through fair trade. This income helps pay for food, education, health care and housing. Thousands of volunteers in Canada and the United States work with Ten Thousand Villages in their home communities.

Ten Thousand Villages is a nonprofit program of Mennonite Central Committee (MCC), the relief and development agency of Mennonite and Brethren in Christ churches in North America. Ten Thousand Villages has been working around the world since 1946.

Operating Principles

  • We work with disadvantaged artisans.
  • We purchase from craft groups that are concerned for their members and that promote member participation.
  • We pay fair prices for handicrafts. We pay promptly.
  • We pay up to half the value of a handicraft order when it is placed; the balance when the items are shipped to North America. This provides operating capital for artisans to purchase raw materials and for craft groups to pay workers.
  • We offer handicrafts that reflect and reinforce rich cultural traditions.
  • We promote fair trade.
  • We use marketing strategies and messages consistent with our mission and ideals.
  • Our ideals include responsible lifestyle choices, efficiency and Christian ethics. We seek integrity in all our actions and relationships.
  • Whenever possible, we work with volunteers in North American operations.

Ten Thousand Villages believes in fair trade. Our organization is a member of the International Fair Trade Association, (IFAT), a coalition of Third World handicraft and agricultural producer organizations and ATOs from both the North and the South.

Ten Thousand Villages is also a member of Fair Trade Federation, (FTF), a coalition of more than two hundred craft producers, wholesalers and retailers. FTF seeks to develop a workable agenda for handicrafts and agricultural products within the context of fair trade.

Purchasing Guidelines

The production and marketing of crafts and other products is a way of providing livelihood with dignity for workers. Ten Thousand Villages follows these guidelines:

  • Artisans will be from poorer sectors of society and will be unemployed or under- employed. Preference is given to artisans living in less developed or developing countries.
  • Artisans should be paid fairly for work done based on local economic conditions.
  • Preference is given to:
    • Community groups with whom Mennonite Central Committee (MCC) already works.
    • Fledgling organizations or groups that demonstrate concern for workers and encourage worker/employee participation in decision-making and ownership. e.g., Cooperatives and associations of artisans.
    • Groups that involve people who are most disadvantaged; e.g., disabled, refugees, minorities. Ten Thousand Villages will ask the local MCC office, an MCC partner organization or another MCC/Ten Thousand Villages trusted organization to get to know potential new artisan groups and make recommendations to Ten Thousand Villages before placing an order.
  • Purchases from artisans will be made as directly as possible. When direct purchases are not possible, Ten Thousand Villages will work with trusted intermediaries who agree with and follow Ten Thousand Villages guidelines.
  • Preservation of the environment is important. Ten Thousand Villages will buy products made from materials and processes that do not threaten the local environment.
  • Provide services to producers when possible and appropriate; e.g. product design and development, marketing advice, assistance to diversify and expand markets locally and internationally, business assistance.
  • Promote traditional and indigenous arts and crafts where economically feasible.
  • Good quality control and sound business practices are expected of all artisan groups.
  • Promote better understanding among North Americans about the environment and living situations of artisans.

By following these guidelines, Ten Thousand Villages seeks to enable people to further develop their abilities and resources.

Ten Thousand Villages Is Fair Trade

Ten Thousand Villages is a nonprofit, self-supporting alternative trading organization (ATO). ATOs are non-governmental organizations designed to benefit artisans, not to maximize profits. They market products from handicraft and agricultural organizations based in low-income countries. They provide consumers around the world with products that have been fairly purchased from sustainable sources. ATOs put fair trade into practice and campaign for more equitable terms of trade for artisans from low-income countries.

Ten Thousand Villages is a nonprofit, self-supporting alternative trading organization (ATO). ATOs are non-governmental organizations designed to benefit artisans, not to maximize profits. They market products from handicraft and agricultural organizations based in low-income countries. They provide consumers around the world with products that have been fairly purchased from sustainable sources. ATOs put fair trade into practice and campaign for more equitable terms of trade for artisans from low-income countries.

  • Improving the artisan's quality of life is the main objective.
  • Artisans receive a fair price for their goods and advances on orders.
  • ATOs work with artisans to provide quality products.
  • Purchase and marketing of artisans' goods are conducted according to high ethical standards. Continuity of orders is important.
  • Sources, production and workplaces do not exploit people or the environment.
  • Products have meaning above their tangible attributes. Consumers are informed about the people who make the products they purchase, increasing their loyalty and understanding that their purchasing power makes a difference.
  • Cultural exchanges between people in the South and people in the North are encouraged.

Ten Thousand Villages is also a member of Fair Trade Federation, (FTF), a coalition of more than two hundred craft producers, wholesalers and retailers. FTF seeks to develop a workable agenda for handicrafts and agricultural products within the context of fair trade.

Chiến lược cho một tổ chức phi chính phủ

Về chương trình Vạn Hương

Chương trình Vạn Hương tạo thu nhập thoả đáng sống còn cho người dân ở thế giới thứ 3 bằng cách bán hàng thủ công mỹ nghệ của họ và giới thiệu họ với Bắc Mỹ.

Chương trình Vạn Hương hợp tác với những thợ thủ công thất nghiệp hoặc sản xuất cầm chừng, tạo nguồn thu nhập bền vững cho họ thông qua thương mại công bằng. Thu nhập này giúp trang trải chi phí ăn uống, học hành, y tế, và nhà ở. Hàng ngàn người tình nguyện ở Ca na đa và Hoa Kỳ cộng tác với chương trình Vạn Hương tại cộng đồng địa phương của họ.

Vạn Hương là một chương trình phi lợi nhuận của Uỷ ban Trung ương Mennonite (MCC), cơ quan phát triển và cứu trợ của các nhà thờ thiên chúa giáo dòng Brethen và Mennonite ở Bắc Mỹ. Tổ chức Vạn Hương hoạt động khắp nơi trên thế giới từ năm 1946.

Nguyên tắc hoạt động

• Làm việc với những thợ thủ công trong cảnh bất lợi.

• Mua hàng từ những nhóm thợ thủ công nào quan tâm đến các thành viên của họ và khuyến khích thành viên tham gia hoạt động nhóm.

• Trả giá thích đáng cho các sản phẩm thủ công. Thanh toán sòng phẳng.

• Trả đến một nửa giá trị hàng thủ công mỹ nghệ khi đã lập đơn đặt hàng; cân đối lại giá trị thanh toán khi hàng được trở đến Bắc Mỹ. Như vậy sẽ cung cấp được vốn hoạt động cho thợ thủ công để mua nguyên liệu sản xuất và giúp nhóm sản xuất trả lương cho người lao động.

• Đặt hàng đối với những mặt hàng thủ công phản ánh và gìn giữ truyền thống văn hoá giàu bản sắc.

• Khuyến khích thương mại công bằng.

• Dùng chiến lược tiếp thị và khẩu hiệu phù hợp với sứ mệnh và lý tưởng của tổ chức.

• Lý tưởng của chúng tôi bao gồm việc chọn cách sống có trách nhiệm, sự hiệu quả và đạo đức thiên chúa giáo. Quan tâm đến tính chất liêm chính trong mọi hành động và mối quan hệ.

• Mỗi khi có thể, phối hợp với tình nguyện viên trong các hoạt động của miền Bắc Mỹ.

Tổ chức Vạn Hương tin tưởng vào nguyên tắc thương mại công bằng. Tổ chức của chúng tôi là thành viên Hiệp hội Thương mại Công bằng Quốc tế, (IFAT), một liên minh giữa hàng thủ công mỹ nghệ thế giới thứ ba và liên hiệp các nhà sản xuất nông nghiệp, thành viên của ATO từ cả miền bắc lẫn miền nam.

Tổ chức Vạn Hương còn là thành viên của Liên đoàn Thương mại Công bằng, FTF, một liên minh của hơn 200 thợ thủ công mỹ nghệ, ngững người bán buôn và bán lẻ. FTF tìm cách phát triển một chương trình khả thi cho hàng thủ công mỹ nghệ và nông sản trong khuôn khổ thương mại công bằng.

Hướng dẫn mua hàng

Sản xuất và tiếp thị hàng thủ công mỹ nghệ và những hàng hoá khác là một cách bảo đảm sinh kế cho người sản xuất với sự tôn trọng. Tổ chức Vạn Hương tuân thủ những nguyên tắc sau:

• Thợ thủ công mỹ nghệ thuộc tầng lớp nghèo hơn trong xã hội và là những người không có việc làm hoặc sản xuất cầm chừng. Ưu tiên cho những thợ thủ công sống ở vùng kém phát triển hoặc ở các nước đang phát triển.

• Thợ thủ công phải được trả thù lao thoả đáng cho sản phẩm của mình dựa trên các điều kiện kinh tế địa phương.

• Ưu tiên cho:

˚ Các cộng đồng mà MCC đã có quan hệ làm việc cùng.

˚ Các tổ chức dưỡng dục hoặc các nhóm thể hiện quan tâm đến người lao động và khuyến khích người lao động/ nhân viên tham gia vào việc ra quyết định và tham gia sở hữu. Ví dụ như các hợp tác xã và các hiệp hội thủ công.

˚ Các nhóm gồm những người thiệt thòi nhất, như người tàn tật, người tị nạn, người dân tộc thiểu số. Tổ chức Vạn Hương sẽ đề nghị văn phòng MCC tại địa phương, một tổ chức hội viên MCC, hoặc một tổ chức MCC khác do Vạn Hương uỷ nhiệm dể tìm hiểu các nhóm thợ thủ công mỹ nghệ tiềm năng và giới thiệu họ với Vạn Hương để đặt hàng.

• Mua hàng từ thợ thủ công mỹ nghệ càng trực tiếp bao nhiêu càng tốt bấy nhiêu. Khi mua hàng trực tiếp không thể thực hiện được, Vạn Hương sẽ làm việc với các trung gian được uỷ nhiệm, những người đồng ý tuân theo những nguyên tắc mua hàng của Vạn Hương.

• Bảo vệ môi trường là rất quan trọng. Vạn Hương sẽ mua sản phẩm làm từ nguyên liệu và qua các quá trình sản xuất không đe doạ môi trường địa phương.

• Cung cấp dịch vụ cho người sản xuất khi có điều kiện và có dịch vụ phù hợp, ví dụ như thiết kế và phát triển sản phẩm, tư vấn tiếp thị, giúp đa dạng hoá và mở rộng thị trường trong cũng như ngoài nước, các trợ giúp về thương mại.

• Khuyến khích thủ công mỹ nghệ truyền thống và bản địa khi kinh tế cho phép.

• Kiểm soát chất lượng tốt và kinh doanh thành công là những điều được mong đợi từ tất cả các nhóm thủ công mỹ nghệ.

• Khuyến khích cộng đồng Bắc Mỹ hiểu biết hơn nữa về môi trường và hoàn cảnh sống của người thợ thủ công.

Bằng cách tuân thủ những nguyên tắc này, Vạn Hương muốn khuyến khích người dân ở tình trạng bất lợi phát triển khả năng và nguồn lực của mình.

Hoạt động của Vạn Hương là thương mại công bằng

Vạn Hương là một tổ chức mậu dịch ngoại hệ, tự quản và vô vụ lợi, (ATO). ATO là các tổ chức phi chính phủ thành lập vì lợi ích của thợ thủ công mỹ nghệ, không vì lợi nhuận. Các tổ chức này bán sản phẩm từ của các cơ sở sản xuất nông nghiệp và thủ công mỹ nghệ của các nước nghèo. Họ phục vụ người tiêu dùng trên khắp thế giới bằng những sản phẩm trao đổi công bằng mua từ những nguồn sản xuất bền vững. ATO đưa thương mại công bằng vào thực tế và ủng hộ các thoả thuận công bằng hơn trong thương mại đối với thợ thủ công ở những nước thu nhập thấp.

• Mục tiêu chính là cải thiện chất lượng cuộc sống của thợ thủ công.

• Thợ thủ công nhận thu nhập thoả đáng từ việc bán sản phẩm của mình và từ việc được đặt hàng nhiều hơn.

• ATO phối hợp với thợ thủ công để cung cấp những sản phẩm có chất lượng.

• Thu mua và tiếp thị sản phẩm thủ công được tiến hành theo những tiêu chuẩn đạo đức cao. Đặt hang lâu dài là quan trọng.

• Nguồn nguyên liệu, quá trình sản xuất và nơi sản xuất không ảnh hưởng xấu đến môi trường và con người.

• Các sản phẩm thủ công có nhiều ý nghĩa hơn là các đặc tính hang hoá của chúng. Người tiêu dùng được biết về người sản xuất ra sản phẩm họ mua, tăng thêm sự gắn bó với sản phẩm và nhận thức rằng việc mua hang của họ có thể làm thay đổi được hoàn cảnh.

• Giao lưu văn hoá Nam-Bắc được khuyến khích.

Vạn Hương còn là thành viên của tổ chức Liên hiệp Thương mại Công bằng, (FTF), một liên minh gồm hơn 200 thợ thủ công, các nhà bán buôn và bán lẻ. FTF nỗ lực phát triển các kế hoạch khả thi cho sản phẩm nông nghiệp và thủ công mỹ nghệ trong khuôn khổ thương mại công bằng.

Quá trình phát triển của tổ chức chúng tôi

Tổ chức Vạn Hương bắt đầu hoạt động từ năm 1946 khi nhân viên Uỷ ban Trung ương Đạo Mennonite, Edna Ruth Byler từ Akron, Bang Pensylvania, thăm các tình nguyện viên MCC đang dạy các lớp thêu ở Puerto Rico. Họ tìm cách cải thiện cuộc sống cho những người học thêu, những người mà phần đông đều là nghèo khổ.

Byler mang nhiều mẫu thêu về nhà để bán cho bè bạn và những người láng giềng. Những mẫu thêu này được ưa thích và Byler nhanh chóng bổ sung thêm vào danh mục hàng của mình các sản phẩm thủ công đan len từ những người tị nạn Pa let xtin, đồ gỗ mỹ nghệ gia công từ thợ khắc gỗ Hai ti. Đầu những năm 70, công việc phát đạt này rời khỏi cơ sở Byler để trở thành một chương trình chính thức của MCC. MCC là tổ chức phục vụ, cứu trợ và phát triển của đạo Mennonite và Brethren Bắc Mỹ trong khuôn khổ các nhà thờ thiên chúa giáo.

Hơn 50 năm qua, tổ chức Vạn Hương được biết đến như một tổ chức Thợ thủ công Tự lực của thế giới, với biểu tượng riêng được kèm theo dưới đây. Tên và biểu tượng này đã trở nên quen thuộc với hàng ngàn người tiêu dùng trung thành và những tình nguyện viên giúp xây dựng chương trình thành một tổ chức thương mại ngoại hệ mạnh và trở thành Vạn Hương vào năm 1996.

Tất cả khách hàng, tình nguyện viên, những người ủng hộ, những người đã giúp làm cho Thợ thủ công Tự lực và biểu tượng của nó quen thuộc ở nơi ở của mình, hãy hỗ trợ chúng tôi làm cho Vạn Hương thành công hơn nữa trong 50 năm tới.

Back to Top

Information Technology

Back to Top

Input for IT

TOEFL Exercises

Back to Top

These exercises draw from” Poverty and the Environment: Reversing the Downward Spiral” by Alan D. Durning, “Worldwatch Paper 92”, November 1989 (pages 54-56)

Directions: In this section, you will read two passages. Each one is followed by a number of questions about the passage. You are to choose the one best answer, A, B, C, or D, for each question. Answer all questions about the information in a passage on the basis of what is stated or implied in that passage.

Example:

As population swells, peasants in highland valleys are forced to expand their plots only steep forested hillsides, extending the distance women must walk to gather fuel and fodder.

As population swells, all of the following happen EXCEPT

  1. Steeper hillsides are farmed
  2. Farming plots have to be expanded
  3. Women’s work increases
  4. The forested hillsides become more productive.

The correct answer is D. If you are ready to respond to the following, note the time and begin.

1. The phrase “source of livelihood” in line 5 is closest in meaning to

  1. Way to make a living
  2. An example of how life has gotten better
  3. Life’s meaning
  4. A foundation or starting place

2. The phrase “has yet to be seen” in lines 7 and 8 is closest in meaning to

  1. Has happened
  2. Is something they see coming
  3. Hasn’t happened yet
  4. Thus far until now

3. According to the passage development has

  1. Has improved life for the poor
  2. Has done little for the middle class
  3. May have hurt the poor
  4. Has taken the time to redefine development goals.

4. The word “innovative” in line 15 is closest in meaning to

  1. New and original
  2. Make new products
  3. Do things the same way
  4. Memorize the way things were done in the past

5. These paragraphs lead us to believe

  1. Development work has been a step in the right direction
  2. Development work has not been effective in helping those it tries to help
  3. Development work has helped the poor more than it has the middle class
  4. Development work needs international agencies to work together

6. The word “fetch” in line 6 is closest in meaning to

  1. Distance wind travels unobstructed
  2. Be sold for
  3. Go and get something
  4. Make

7. The word “alleviate” in line 13 is closest in meaning to

  1. To make less severe
  2. To let rise up
  3. To worsen
  4. the means and methods

8. The word “essence” in line 1 is closest in meaning to

  1. Ideal nature
  2. Fragrance
  3. Chemical component
  4. Sample

9. This passage infers that Ghandi’s goal for development is

  1. Telling the poor how to live their lives
  2. Deciding what the poor need to better their lives
  3. Granting large sums of money
  4. Helping the poor manage their own lives.

10. What does this passage mainly discuss?

  1. How to help the poor
  2. How nutritionists should educate the poor
  3. How to raise funds for relief
  4. How outside investors have helped the situation

11. The word “beneficiaries” in line 11 is closest in meaning to

  1. Gandhi’s concept of antyodaya
  2. Will someone gain by it
  3. Givers
  4. People who will receive

12. Paulus Santos states that “ he only true experts on poverty are the poor” because the poor

  1. Live in Indonesia
  2. Know more about nutritional analysis that the nutritionist
  3. Know more about worldwide agriculture
  4. Know how to exist in poverty

13. The pronoun “it” in line 10 refers to

  1. Outsiders
  2. The beneficiaries
  3. The poor
  4. Development

14. The word “accelerating” in line 3 is closest in meaning to

  1. decline
  2. obvious
  3. speeding up
  4. availability

15. The work “proliferation” in line 4 is closest in meaning to

  1. population
  2. spread
  3. scarcity
  4. agreement

16. The word “grassroots” in line 5 is closest in meaning to

  1. Grass growth
  2. Root growth
  3. Normal people
  4. Development

17. Which of the following is NOT mentioned in the first paragraph as a reason why true development is expanding?

  1. poor people organize
  2. the accelerating proliferation of self-help groups
  3. Grassroots action
  4. antipoverty groups deteriorated

18. Which of the following is NOT mentioned as being part of the “poverty trap” refered to in line 17?

  1. Lack of power
  2. Sickness
  3. War
  4. Population growth

19. Which of the following is NOT mentioned as one of CENDA’s approaches to improve the situation in Raqaypampa?

  1. A radio station in their own language
  2. A bank
  3. An educational program
  4. A local newspaper

20. What was the general reason for CENDA’s success?

  1. Greater access to information
  2. Tree planting
  3. Better soil
  4. Reading aloud

"Best Answer"

Back to Top

Input for Best Answer

 

FORUM

Back to Top